Tìm thông tin

Bệnh ung thư đại tràng là gì?


Bệnh ung thư đại tràng là gì?


Căn bệnh phổ biến này thường gặp nhiều ở nam giới, nhất là lứa tuổi 30-60 tuổi. Bệnh có tỷ lệ tử vong cao vì ít được phát hiện và điều trị sớm. Thường khi nhập viện thì khối u đã lớn, không thể loại bỏ, việc điều trị chỉ giúp lưu thông tiêu hóa mà thôi.
Hình ảnh ung thư trực tràng. (Ảnh minh họa)
Đại tràng là phần cuối của ống tiêu hóa, thường dài 1,5-2 m, nằm trong ổ bụng theo hình chữ U. Chức năng của đại tràng là tiêu hóa phần bã thức ăn đã được ruột non hấp thụ hết dưỡng chất nhằm thu lại một phần nước, đường và vitamin nhóm B còn lại; đồng thời nhào nặn, cô đặc và lên men để tạo ra phân, đưa xuống trực tràng để thải ra ngoài. Vì vậy, đại tràng là nơi tích tụ các chất bẩn và vi khuẩn do ống tiêu hóa thải ra nên dễ viêm nhiễm, nhất là trong tình hình ô nhiễm môi trường và thức ăn hiện nay.
Cho đến nay, các nhà khoa học chưa hiểu rõ nguyên nhân gây ung thư đại tràng nhưng đã có thể nhận biết được những yếu tố liên quan đến việc hình thành bệnh:
- Ǎn nhiều chất béo động vật.
- Viêm đại tràng mạn tính dai dẳng.
- Có những bệnh gây loét và tạo nên polyp đại tràng như lỵ amip.
Triệu chứng của ung thư đại tràng thường trùng hợp với triệu chứng của lỵ và viêm đại tràng mạn tính, bao gồm:
- Đau âm ỷ, có khi đau nhiều thành cơn (không liên quan đến ăn uống), đầy tức bụng và nóng ruột. Điểm đau có khi không tương xứng với vị trí tổn thương.
- Rối loạn tiêu hóa. Có khi bị táo bón, 4-5 ngày mới đi một lần, phân lổn nhổn như phân dê. Có khi đi lỏng 4-5 ngày hoặc vừa táo vừa lỏng. Nhiều trường hợp đi lỏng kèm theo máu nhầy trong phân và mủ.
- Chảy máu đường ruột nhưng ít khi máu đỏ tươi.
- Sờ lên bụng thấy có u. U bên phải thường to hơn u bên trái. Nếu u lớn thì khó hoặc bí đại tiện.
Bệnh nhân luôn có cảm giác đau tức.
Có thể phát hiện bệnh bằng phương pháp chụp X-quang hoặc soi đại tràng.
Để phòng căn bệnh trên, cần điều trị tốt bệnh lỵ và viêm đại tràng mạn. Nếu điều trị nhiều lần không đỡ thì nên soi đại tràng để phát hiện có polyp hay tổn thương không. Nếu có polyp thì phải làm sinh thiết và tiến hành cắt bỏ càng sớm càng tốt.
Khi đã hình thành ung thư, cần cắt bỏ u và tạo lại đại tràng để đảm bảo lưu thông tiêu hóa tốt. Nếu u to không cắt được, phải làm hậu môn nhân tạo thì cần chăm sóc vệ sinh tốt, đề phòng các biến chứng sau này. Nếu u to gây tắc đại tràng, không còn khả năng điều trị thì phải tạo lỗ rò hoặc hậu môn nhân tạo và điều trị u bằng phóng xạ hay hóa chất. Tiên luợng kém.
TS Nguyễn Vân Hồ, Sức Khoẻ & Đời Sống

Bệnh tim và Đột quỵ là gì?


Có nhiều dạng bệnh tim và bệnh về mạch máu. Hơn 82 triệu người Mỹ mắc một hay nhiều dạng bệnh này. Mỗi năm, có trên 813.000 người chết vì các bệnh này - tức trên 33 phần trăm của tất cả các ca tử vong tại Hoa Kỳ! Tuy vậy, nhiều dạng bệnh tim và đột quỵ có thể phòng ngừa được. Đây là một vài bước then chốt mà quý vị có thể thực hiện:
 
  • Đừng hút thuốc, và tránh hít phải khỏi thuốc thụ động.
  • Giảm huyết áp, nếu huyết áp của quý vị cao.
  • Hãy theo một chế độ ăn lành mạnh ít chất béo bị bão hòa, ít chất béo chuyển dạng, ít cholesterol và muối.
  • Hãy năng hoạt động thể chất.
  • Giữ cân nặng của quý vị trong tầm kiểm soát.
  • Thường xuyên đi kiểm tra sức khỏe.
  • Tuân theo các yêu cầu của bác sĩ về việc dùng thuốc.
  • Kiểm soát đường huyết của quý vị nếu quý vị bị tiểu đường.
Có những dạng bệnh tim và bệnh về mạch máu nào?
 
XƠ CỨNG ĐỘNG MẠCH, hay bệnh xơ cứng thành động mạch, là khi các thành bên trong của động mạch trở nên hẹp hơn do sự tích tụ của mảng bám (thường gặp khi người bệnh có chế độ ăn nhiều chất béo, hút thuốc, bị bệnh tiểu đường hoặc cao huyết áp). Điều này giới hạn dòng chảy của máu đến tim và não. Đôi lúc, mảng này có thể vỡ tan ra. Khi điều này xảy ra, một cục máu hình thành và làm nghẽn động mạch. Điều này có thể gây các cơn đau tim và đột quỵ.
 
HUYẾT ÁP CAO, hay còn gọi là chứng cao huyết áp, là khi áp lực trong động mạch liên tục cao hơn ngưỡng bình thường. Huyết áp là lực của dòng máu tác động vào thành mạch. Huyết áp cao được viết thành hai con số như là 122/78 mm Hg. Con số ở trên (số tâm thu) là huyết áp khi tim đập/co bóp. Con số ở dưới (huyết áp tâm trương) là huyết áp khi tim nghỉ giữa hai lần đập. Huyết áp cao là huyết áp tâm thu duy trì từ 140 trở lên và/hoặc huyết áp tâm trương duy trì từ 90 trở lên trong một khoảng thời gian.
 
Điều nguy hiểm là quý vị thường không biết quý vị bị huyết áp cao! Vì không có dấu hiệu nào nên mỗi năm quý vị phải đi khám bác sĩ. Đồng thời, không ai biết chính xác điều gì gây nên huyết áp cao. Tuy nhiên, huyết áp cao có thể dẫn đến xơ cứng động mạch, đột quỵ hay cơn đau tim.
 
ĐAU TIM xảy ra khi dòng chảy của máu đến một phần của tim bị nghẽn, thường là do cục máu. Nếu cục máu này cắt đứt hoàn toàn lưu lượng máu, phần cơ tim được cung cấp bởi động mạch này bắt đầu tê liệt.
 
Sau đây là một vài dấu hiệu của một cơn đau tim:
  • Áp lực khó chịu, đè nặng, căng đầy hay đau vùng giữa ngực quý vị. Áp lực hay cơn đau đó kéo dài trên vài phút hay hết đi và bị lại.
  • Đau hoặc khó chịu ở một hoặc cả hai tay, lưng, cổ, hàm hay dạ dày.
  • Thở gấp kèm hoặc không kèm sự khó chịu ở ngực.
  • Các dấu hiệu khác như đổ mồ hôi lạnh, buồn nôn hay váng đầu.
Nếu quý vị có một hay nhiều dấu hiệu này, đừng đợi quá 5 phút mới gọi để xin được giúp đỡ. Gọi 9-1-1…Đến bệnh viện ngay lập tức.
 
SUY TIM nghĩa là tim của quý vị không bơm máu như là nó phải làm. Tim vẫn hoạt động, nhưng cơ thể không nhận được tất cả máu và ôxy cần thiết. Hãy khám bác sĩ nếu quý vị nhận thấy bất kỳ dấu hiệu nào sau đây:
  • Sưng bàn chân, mắt cá chân và cẳng chân, gọi là "phù".
  • Dịch tích tụ trong phổi, gọi là "sung huyết phổi."
ĐỘT QUỴ và TIA xảy ra khi một mạch máu nuôi não bị tắc hoặc bị vỡ. Sau đó, phần đó của não không thể hoạt động và phần của cơ thể mà phần đó của não kiểm soát cũng không thể hoạt động. Các yếu tố nguy cơ chính bao gồm:
  • Cao huyết áp
  • Hút thuốc
  • Bệnh tiểu đường
  • Mức cholesterol cao
  • Bệnh tim
  • Rung tâm nhĩ (nhịp tim bất thường)
Gọi 9-1-1 để nhanh chóng nhận sự giúp đỡ nếu quý vị có một trong bất cứ dấu hiệu cảnh báo đột quỵ và cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA) nào.
  • Bất ngờ có cảm giác tê liệt hoặc yếu ớt ở mặt, tay hay chân, đặc biệt ở một bên của cơ thể   
  • Đột ngột bị lẫn lộn, gặp vấn đề trong việc nói và hiểu   
  • Đột ngột có vấn đề về thị lực ở một hoặc cả hai mắt   
  • Đột ngột có vấn đề trong việc đi lại, bị hoa mắt, mất thăng bằng hay mất khả năng kiểm soát sự di chuyển của cơ thể   
  • Đau đầu dữ dội và đột ngột mà không rõ nguyên nhân
Có thể tìm hiểu sâu hơn bằng cách nào?
 
  1. Hãy bàn thảo với bác sĩ, y tá hoặc chuyên gia y tế của quý vị. Nếu quý vị có bệnh tim hoặc đã từng bị đột quỵ, các thành viên trong gia đình quý vị cũng có thể có nguy cơ cao. Đối với họ, thay đổi ngay bây giờ để giảm nguy cơ là điều rất quan trọng.
  2. Hãy gọi 1-800-AHA-USA1 (1-800-242-8721), hoặc ghé thăm heart.org để tìm hiểu thêm về bệnh tim.
  3. Để biết thông tin về đột quỵ, hãy gọi 1-888-4-STROKE (1-888-478-7653) hoặc ghé thăm trang trực tuyến của chúng tôi tại StrokeAssociation.org
Chúng tôi có nhiều tờ thông tin và sách hướng dẫn giúp quý vị có được những lựa chọn lành mạnh hơn để giảm nhẹ nguy cơ, kiểm soát bệnh tật hoặc chăm sóc cho người thân. Ghé thăm heart.org/answersbyheart để tìm hiểu thêm.
 
 
Kiến thức là sức mạnh, Hãy Học hỏi và Sống!
 
Qúy vị có câu hỏi hay nhận xét nào dành cho bác sĩ hay y tá của quý vị không?
 
Hãy dành vài phút viết ra câu hỏi của chính quý vị để mang theo trong lần tiếp theo đến gặp nhà cung cấp dịch vụ y tế. Ví dụ:
 
Tôi có thể giảm nguy cơ bị bệnh tim và đột quỵ của tôi bằng cách nào?
 
Loại thuốc nào có thể giúp cho tôi?
 

©2012, Hiệp Hội Tim Mạch Hoa Kỳ (American Heart Association)

Logistics là gì?


Logistics là gì?

Dịch vụ logisics là gì? Bạn có bao giờ thắc mắc như vậy không? Cá nhân tôi mặc dù đã làm trong ngành shipping nhiều năm, và sau đó chuyển sang làm cho một công ty logisics, tôi vẫn có thời gian dài không có khái niệm rõ ràng về lĩnh vực này.

Vậy logistics là gì?

Trước khi trích dẫn định nghĩa mang tính học thuật, tôi xin nêu cách hiểu ngắn gọn: Logistics là quá trình lên kế hoạch, áp dụng và kiểm soát các luồng chuyển dịch của hàng hóa hay thông tin liên quan tới nguyên nhiên liệu vật tư (đầu vào) và sản phẩm cuối cùng (đầu ra) từ điểm xuất phát tới điểm tiêu thụ.
Có thể minh họa sự kết hợp của logistics đầu vào và đầu ra trong sơ đồ sau:
Chuỗi Logistics
Nguồn: vlr.vn
Logistics có thể tạm dịch một cách không sát nghĩa là “hậu cần”, nhưng có lẽ đến nay Tiếng Việt chưa có thuật ngữ tương đương. Chúng ta có thể chấp nhận từ logistics như một từ đã được Việt hóa, cũng tương tự như nhiều từ khác trong thực tế đã chấp nhận như container, marketing…

Khía cạnh lịch sử

Về mặt lịch sử, thuật ngữ logistics bắt nguồn từ các cuộc chiến tranh cổ đại của đế chế Hy Lạp và La Mã. Khi đó, những chiến binh có chức danh “Logistikas” được giao nhiệm vụ chu cấp và phân phối vũ khí và nhu yếu phẩm, đảm bảo điều kiện cho quân sỹ hành quân an toàn từ bản doanh đến một vị trí khác. Công việc “hậu cần” này có ý nghĩa sống còn tới cục diện của chiến tranh, khi các bên tìm mọi cách bảo vệ nguồn cung ứng của mình và tìm cách triệt phá nguồn cung ứng của đối phương. Quá trình tác nghiệp đó dần hình thành một hệ thống mà sau này gọi là quản lý logistics.
Trong thế chiến thứ hai, vai trò của “logistics” càng được khẳng định. Đội quân hậu cần của quân đội Mỹ và đồng minh tỏ ra có hiệu quả hơn của quân đội Đức. Quân Mỹ đã đảm bảo cung cấp vũ khí, đạn dược, và quân nhu đúng địa điểm, đúng thời gian, bằng những phương thức tối ưu. Nhờ phát huy ưu thế về công tác hậu cần mà Mỹ và đồng minh đã nhiều lần chiếm ưu thế trong cuộc chiến tranh. Cũng trong thời gian này, nhiều ứng dụng về logictics đã được phát triển và vẫn còn được sử dụng đến ngày nay, mặc dù đã có ít nhiều thay đổi để phù hợp với môi trường sản xuất kinh doanh.

Trong luật Việt Nam

Thuật ngữ logistics cũng đã được sử dụng chính thức trong Luật thương mại 2005, và được phiên âm (một cách khá “ngộ nghĩnh”) theo tiếng Việt là “lô-gi-stíc”. Điều 233 Luật thương mại nói rằng:
“Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao.”

Định nghĩa mang tính học thuật

Hiện có nhiều định nghĩa học thuật về thuật ngữ logistics. Theo Hiệp hội các nhà chuyên nghiệp về quản trị chuỗi cung ứng (Council of Supply Chain Management Professionals - CSCMP), thì thuật ngữ này được định nghĩa khá đầy đủ như sau:
“Quản trị logistics là một phần của quản trị chuỗi cung ứng bao gồm việc hoạch định, thực hiện, kiểm soát việc vận chuyển và dự trữ hiệu quả hàng hóa, dịch vụ cũng như những thông tin liên quan từ nơi xuất phát đến nơi tiêu thụ để đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Hoạt động của quản trị logistics cơ bản bao gồm quản trị vận tải hàng hóa xuất và nhập, quản lý đội tàu, kho bãi, nguyên vật liệu, thực hiện đơn hàng, thiết kế mạng lưới logistics, quản trị tồn kho, hoạch định cung/cầu, quản trị nhà cung cấp dịch vụ thứ ba. Ở một số mức độ khác nhau, các chức năng của logistics cũng bao gồm việc tìm nguồn đầu vào, hoạch định sản xuất, đóng gói, dịch vụ khách hàng. Quản trị logistics là chức năng tổng hợp kết hợp và tối ưu hóa tất cả các hoạt động logistics cũng như phối hợp hoạt động logistics với các chức năng khác như marketing, kinh doanh, sản xuất, tài chính, công nghệ thông tin.”

Phân biệt với “Chuỗi cung ứng”

Nếu logistics là một phần của quản trị chuỗi cung ứng như định nghĩa trên, thì phần còn lại là gì? Phân biệt logistics và chuỗi cung ứng như thế nào? Hay nói cách khác, logistics khác gì với chuỗi cung ứng?
Để có căn cứ phân biệt, ta quay trở lại với khái niệm "chuỗi cung ứng" cũng của Hiệp hội các nhà chuyên nghiệp về quản trị chuỗi cung ứng. Hãy xem họ định nghĩa thế nào:
“Quản trị chuỗi cung ứng bao gồm hoạch định và quản lý tất cả các hoạt động liên quan đến tìm nguồn cung, mua hàng, sản xuất và tất cả các hoạt động quản trị logistics. Ở mức độ quan trọng, quản trị chuỗi cung ứng bao gồm sự phối hợp và cộng tác của các đối tác trên cùng một kênh như nhà cung cấp, bên trung gian, các nhà cung cấp dịch vụ, khách hàng. Về cơ bản, quản trị chuỗi cung ứng sẽ tích hợp vấn đề quản trị cung cầu bên trong và giữa các công ty với nhau. Quản trị chuỗi cung ứng là một chức năng tích hợp với vai trò đầu tiên là kết nối các chức năng kinh doanh và các qui trình kinh doanh chính yếu bên trong công ty và của các công ty với nhau thành một mô hình kinh doanh hiệu quả cao và kết dính. Quản trị chuỗi cung ứng bao gồm tất cả những hoạt động quản trị logistics đã nêu cũng như những hoạt động sản xuất và thúc đẩy sự phối hợp về qui trình và hoạt động của các bộ phận marketing, kinh doanh, thiết kế sản phẩm, tài chính, công nghệ thông tin.”
Nếu so sánh hai định nghĩa trên, có thể thấy sự khác nhau cơ bản. Khái niệm chuỗi cung ứng rộng hơn và bao gồm cả logistics và quá trình sản xuất. Ngoài ra, chuỗi cung ứng chú trọng hơn đến hoạt động mua hàng (procurement) trong khi logistics giải quyết về chiến lược và phối hợp giữa marketing và sản xuất.

1PL, 2PL, 3PL, 4PL là gì vậy?

Khi nói đến logistics, bạn có thể hay nghe các công ty dịch vụ nhận mình là 3PL (Third Party Logistics provider), nghĩa là Công ty cung cấp dịch vụ logistics bên thứ 3. Câu hỏi đặt ra là: 3PL là gì nếu họ là bên thứ 3, vậy còn các bên thứ nhất (1PL), thứ hai (2PL), hay bên thứ tư (4PL) là gì? Ta cùng xem từng khái niệm.
1PL: là người cung cấp hàng hóa, thường là người gửi hàng (shipper), hoặc là người nhận hàng (consignee). Các công ty tự thực hiện các hoạt động logistics của mình. Công ty sở hữu các phương tiện vận tải, nhà xưởng, thiết bị xếp dỡ và các nguồn lực khác bao gồm cả con người để thực hiện các hoạt động logistics. Đây là những tập đoàn Logistics lớn trên thế giới với mạng lưới logistics toàn cầu, có phương cách hoạt động phù hợp với từng địa phương.
2PL: là người vận chuyển thực tế, chẳng hạn như hãng tàu, hãng hàng không, hãng xe tải
3PL: là người cung cấp giải pháp tổng thể cho dịch vụ logistics cho khách hàng, họ thường đảm nhiệm một phần, hay toàn bộ các công đoạn của chuỗi cung ứng.
4PL: Thuật ngữ 4PL lần đầu tiên được công ty Accenture sử dụng, và công ty này định nghĩa như sau: “A 4PL is an integrator that assembles the resources, capabilities, and technology of its own organization and other organizations to design, build and run comprehensive supply chain solutions.”

Ví dụ về dịch vụ logistics

Dưới đây là ví dụ về dịch vụ logistics cho công ty May 10, trích đăng từ bài viết trên diễn đàn Vietship của thành viên có tên Dangerous Goods.
Công ty May 10 sản xuất và phân phối quần áo đi khắp nơi trong và ngoài nước, giao hàng đến tận nơi, đến tận giá bán hàng của các đại lý bán buôn, bán lẻ, thu hồi sản phẩm hư hỏng, lỗi, bán thanh lý hàng hết mốt, sale, promotion..v.v..
Những việc cơ bản họ phải làm hàng ngày là làm hợp đồng, đặt mua vải, chỉ, cúc, khóa, đinh, dây.v.v... ở trong, ngoài nước và sẽ ở nhiều nước khác nhau, nhiều thành phố khác nhau (vì không thể mua toàn bộ phụ kiện ở 1 nước, 1 thành phố được vì giá cả, mẫu mã, chất lượng ở mỗi nơi sẽ có 1 ưu thế, mỗi 1 sản phẩm sẽ dùng 1 loại phụ kiện đặc biệt hoặc 1 loại vải theo đúng style của đơn hàng đó và sẽ phải mua nhiều loại ở nhiều thành phố khác nhau, rồi sợ chiến tranh, thiên tai,.....)
Công việc vận hành hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng sẽ có những đơn hàng theo lịch trình lập trước gửi cho các công ty vận tải (công ty logistics) đến giờ này, ngày này, tháng này công ty May 10 sẽ cần bao nhiêu cont vải của Italy, bao nhiêu kg cúc của Hàn Quốc, bao nhiêu chỉ từ nhà máy trong Biên Hòa chuyển ra để làm đơn hàng A trong bao nhiêu ngày,... Căn cứ theo Order của may 10, công ty vận tải lên kế hoạch và trao đổi cùng May 10 để quyết định ngày nào thì nhập cái gì trước, bằng đường nào, có thể kết hợp hay ghép hàng với đơn hàng khác hoặc của đơn vị khác hay không, v.v..., mục đích nhằm tiết kiệm tiền vận chuyển tối đa cho May 10, kịp tiến độ sản xuất hàng ngày mà lại không mất nhiều chi phí lưu kho (việc này thì công ty May 10 không thể có điều kiện ghép hàng, không có hệ thống đại lý toàn cầu và có phương án làm tốt bằng đơn vị vận tải được).
Nếu mọi việc đều xuôn xẻ, công nhân không ai ốm, điện không bị mất, không mưa, không bão, không động đất, không thay đổi đơn hàng, kiểu dáng, không thừa thiếu, không thay đổi giá cả, không có sự cạnh tranh, đổi nhà cung cấp vv và vv.... thì công ty vận tải cứ thế mà làm và thu tiền.
Nhưng, lúc nào cũng sẽ có chữ “nhưng”, sẽ có lúc 1 trong những nguyên nhân khách quan đem đến, May 10 buộc phải nhập nguyên phụ liệu gấp để kịp về sản xuất, đây là lúc các anh chị vận tải sẽ phải đưa ra phương án tối ưu cho khách hàng, đi bằng gì Sea (LCL; FCL), Truck, Rail, Sea-Air hay Air... Vậy là các công ty giao nhận vận tải (công ty logistics) phải tham gia sâu hơn vào công việc sản xuất kinh doanh của May 10.
Hàng sản xuất ra sẽ cần đến 1 hãng tàu, 1 công ty Logistics hay 1 cty FWD nào đó cho 1 vài anh chị khéo miệng đến nói dăm ba câu phải trái, hạ giá, nâng hoa hồng để giành việc vận chuyển nhưng, lại có 1 chữ “nhưng”, cạnh tranh thế thì khó lắm, công ty đang làm vận tải cho may 10 họ phải dán tem mã, đánh số từng sản phẩm, từng thùng hàng, từng đơn hàng, từng lô hàng, còn 1 số động tác nữa xin được bỏ qua, họ phải quét mã để có số liệu hàng hóa để đưa lên mạng của công ty vận tải và để cùng quản lý lượng hàng, phụ liệu vào/ ra với May 10 nữa.
Hàng chuẩn bị ra lò rồi thì kế hoạch phân phối đi nội địa bao nhiêu, nước ngoài bao nhiêu, cửa hàng này bao nhiêu sản phẩm, cửa hàng kia bao nhiêu sản phẩm thì các anh vận tải cũng có rồi, lúc này thì công ty vận tải sẽ lên kế hoạch đóng đơn nào, đi đâu trước, có thể có hàng lẻ, hàng cont, hàng bộ, hàng Air nhưng các anh hàng không hoặc các anh hãng tàu hay các anh bảo là có Contract giá tốt đợi đấy mà vào cạnh tranh được (các anh có thể làm sub-contract thôi thì được) vì công ty vận tải người ta đã làm bao nhiêu công đoạn có lãi rồi, nếu cần cạnh tranh bằng giá, họ sẵn sàng cạnh tranh giá thấp hơn và sẽ sử dụng dịch vụ của hãng vận tải giá cao/ dịch vụ tốt hơn ông giá rẻ/ dịch vụ kém và hơn nữa họ có 1 loạt công cụ mà hãng vận tải trực tiếp không bao giờ cạnh tranh được thì chắc chắn May 10 sẽ không bỏ công ty vận tải trọn gói kia được và lúc đó hãng vận tải trực tiếp chỉ đi săn đón các ông làm vận tải trọn gói cho các nhà máy như May 10.
Hàng chuyển đến cảng đích rồi việc của công ty logistics lại tiếp tục làm thủ tục hải quan, chuyển hàng đến kho phân phối hoặc chuyển trực tiếp đến từng cửa hàng đặt sản phẩm hoặc đại lý bán hàng cho May 10...v.v...
Công ty logisitcs có thể thu tiền, ghi lại báo cáo lượng hàng tiêu thụ, hàng tồn, hàng đổi, bảo hành, yêu cầu chuyển thêm hàng vào ngày mai,....v.v... cho may 10 từ đó May 10 có kế hoạch sản xuất, phân phối, thu đổi, bảo hành, khiếu nại nhà cung cấp vật liệu,.... và báo cho công ty vận tải kế hoạch vận chuyển, thị trường này đang cần hàng này, không cần hàng kia, thị trường này bán ế move qua thị trường khác để clear hàng. Đơn nào còn đang nằm trong kho, đơn nào đã ra thị trường và nằm tại shop nào, ngày tháng nào thì Sale, promotion đơn nào, loại gì. Tất cả, tất cả những sản phẩm của May 10 đang nằm tại đâu, đất nước nào, thành phố nào, kho hàng nào đều được công ty vận tải quản lý và cập nhật thay đổi hàng ngày với May 10. Thậm chí các công việc tìm kiếm mở rộng thị trường phân phối tại các nước, các yêu cầu, phản hồi từ các đại lý bán hàng, từ công tác thị trường, từ khách hàng công ty vận tải có thể giúp May 10 luôn vì công ty vận tải họ có hệ thống toàn cầu, biết về các công ty bản địa nên thuận lợi hơn trong việc cầu nối thương mại.

Logistics Việt Nam

[http://www.container-transportation.com]

Anchor Text Là Gì?


Anchor Text Là Gì?

Anchor text là đoạn văn bản được dùng để hiển thị link và được mọi người sử dụng để link tới site của bạn. Nói một cách khác, chính là đoạn text link cụ thể mà người dùng nhấp vào.
VD: Chúng ta có một textlink như sau dịch vụ seo, thì cụm từ “dịch vụ seo” chính là anchor text.

Và Tại Sao Anchor Text Lại Quan Trọng?

Anchor text thường cung cấp cho khách truy cập thông tin hữu ích về nội dung của trang mà bạn liên kết tới, và là một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc xếp hạng website trên các công cụ tìm kiếm nếu được sử dụng một cách khôn ngoan, đặc biệt là Google.

Vì, giả sử chúng ta trở lại với VD trên: Nếu bạn sử dụng anchor text là “click here”,thì bạn đang thông báo với mọi người rằng, trang được liên kết tới sẽ có chủ đề là “click here” chứ không phải “dịch vụ seo”. Và liệu người dùng nghĩ rằng họ sẽ tìm thấy thông tin bổ ích nào đó với trang có chủ đề là “click here” trong khi họ đang muốn tìm cho mình một nơi có thể cung cấp dịch vụ seo chuyên nghiệp? Tôi chắc chắn rằng bạn cũng có câu trả lời cho riêng mình khi đọc đến đây.

Ngạc nhiên thay, anchor text quan trọng không như bạn nghĩ. Nó còn có thể giúp trang web của bạn nằm trong top 10 Goolge với một cụm từ nào đó, mà cụm từ này có thể hoàn toàn không hề xuất hiện trong trang web của bạn.


Chúng ta hãy xem hình minh họa nhé:
click-here


Bạn có nghĩ là hãng Adobe làm SEO với cụm từ “click here” cho Adobe Reader? Chắc chắn là không rồi thưa các bạn. Vì đây chỉ là một sự vô tình mà thôi, và hiệu ứng đó gọi là Google-Bombing.


Nhưng thật không may là không phải tất cả anchor text  cũng đều hữu dụng đối với Google. Hãy kiểm tra tất cả các link của bạn để chắc chắn rằng link text sẽ được Google sử dụng.

1.    Thuộc tính nofollow
Những link có thuộc tinh rel=”nofollow”, Google sẽ không sử dụng link text. Ví dụ:

< a href="http://www.example.com" rel="nofollow">keyword< /a>
Bạn có thể kiểm tra thuộc tính này bằng cách view page source hoặc bằng một số công cụ như IBP. Hoặc sử dụng những add-on như SearchStatus,SEOmoz bar cho Firefox hoặc Google Chrome.

 
2.    Ký tự không hợp lệ trong ULR
Nếu trong URL có những ký tự đặc biệt Google sẽ không thể index link đó đúng được.

 Ví dụ:    < a href="http://www.example.com ">keyword< /a>
    
Trong ví dụ trên có một dấu trắng (space) ở cuối URL. Một số webmaster phát hiện ra rằng Google sẽ không nhận link text nếu link có dấu trắng ở đâu hoặc cuối URL.

 
3.    Link sử dụng 301 redirect
Matt cutts mới đây đã khẳng định rằng Google bỏ qua những anchor text sử dụng 301 redirect. 
Ví dụ:   < a href="http://www.example.com/page.htm">keyword< /a>

Khi vào page http://www.example.com/page.htm server redirect đến trang http://www.example.com bằng 301. Trong trường hợp này google sẽ bỏ qua link text “keyword”

 
4.    Trong một trang chỉ một link được chấp nhận
Nếu một trang có 2 link cùng đến một URL google sẽ chỉ sử dụng text link của link đầu tiên và bỏ qua link text của link thứ 2. Ví dụ:
< a href="http://www.example.com">This< /a>is an example.
The link text < a href="http://www.example.com">keyword< /a> will be ignored by Google.
Link thứ nhất và link thứ 2 đều trỏ đến URL http://www.example.com, vì vậy google chỉ lấy link text của link đầu tiên tức là từ “This” còn cum từ “keyword” sẽ bị bỏ qua. Nhưng nếu 2 link cùng trỏ đến 1 domain nhưng URL khác nhau thì Google sẽ sử dụng cả 2 link text. Ví dụ:

< a href="http://www.example.com/page1.htm">This< /a>is an example.

The link text < a href="http://www.example.com/page2.htm">keyword< /a> will be accepted by Google.

Và điều cuối cùng chúng tôi muốn nhắc nhở bạn rằng: Hãy sử dụng anchor text một cách khôn ngoan và thực sự hiệu quả bạn nhé!
Theo "http://seo4b.com"

Quảng cáo trên Google Adwords là gì?

Quảng cáo trên Google Adwords là gì?
Google AdWords là cách quảng cáo dễ dàng và nhanh chóng trên Google và đối tác quảng cáo của Google, bất kể ngân sách của bạn nhiều hay ít. Quảng cáo AdWords hiển thị bên cạnh kết quả tìm kiếm trên Google, cũng như trên trang web tìm kiếm và nội dung trong Mạng Google đang phát triển, bao gồm các trang web như AOL, EarthLink, HowStuffWorks, & Blogger. Với các tìm kiếm trên Google và số lần xem trang trên Mạng Google mỗi ngày, quảng cáo trên Google AdWords của bạn sẽ tiếp cận được một số lượng lớn đối tượng.
Khi tạo quảng cáo AdWords để chạy trên Google và đối tác tìm kiếm của Google, bạn có thể chọn từ khoá để hiển thị quảng cáo của mình và xác định số tiền tối đa bạn sẵn sàng trả cho mỗi nhấp chuột. Bạn chỉ trả khi có ai đó nhấp chuột lên quảng cáo của mình.
Khi tạo quảng cáo AdWords chạy trên Mạng Nội dung, bạn có thể chọn chính xác vị trí nội dung nơi bạn muốn quảng cáo của mình xuất hiện hoặc có thể để nhắm mục tiêu theo ngữ cảnh phù hợp từ khoá với nội dung. Bạn có thể trả cho mỗi nhấp chuột (CPC) hoặc cho mỗi 1000 lần người khác xem quảng cáo của bạn (được gọi là giá thầu CPM).
Để tiết kiệm thêm tiền, Công cụ Giảm giá của AdWords sẽ tự động giảm chi phí mỗi lần nhấp thực (hoặc CPC) vì vậy bạn chỉ phải trả chi phí thấp nhất cần để duy trì vị trí quảng cáo. Công cụ Giảm giá của AdWords vẫn hoạt động cho dù bạn chọn phương pháp hiển thị hay đặt giá thầu nào.
Không phải trả chi phí tối thiểu hàng tháng nào cho AdWords -- chỉ có phí kích hoạt không đáng kể. Bạn có thể chọn từ nhiều dạng quảng cáo, bao gồm quảng cáo văn bản, hình ảnh và video, dễ dàng theo dõi hiệu suất quảng cáo bằng cách sử dụng báo cáo trong Trung tâm Kiểm soát tài khoản trực tuyến của mình.

Nguyên tắc hoạt động của Google Adword như sau:
  • Nhà tài trợ xác định từ khóa mà mình muốn quảng cáo trên Google.
  • Đăng ký quảng cáo từ khóa đó với Google và các đại lý của Google.
  • Mỗi khi có một khách hàng click vào mẫu quảng cáo của nhà tài trợ trên trang liệt kê tìm kiếm thông tin của Google, nhà tài trợ sẽ phải trả 1 khoản tiền tương ứng để đổi lại việc có 1 khách hàng viếng thăm website ( số tiền này được các nhà tài trợ đấu giá trước ).
Chỉ với 4 phút xem video clip phía dưới, bạn sẽ thật sự hiểu: (nhớ bật loa nhé)
  
Bạn vẫn còn thắc mắc về Google Adwords? Hãy liên hệ với chúng tôi để được tư vấn miễn phí !
Theo "netlinkad.vn"

GPS LÀ GÌ


Các bạn có biết máy bay, xe tăng, tàu chiến đều sử dụng GPS hoặc GLONASS để định vị và dẫn đường không ? Ngay cả Trung Quốc hay các nước EU cũng phải phụ thuộc vào hệ thông GPS của Mỹ. Gần đây, châu Âu đang theo đuổi dự án Gallileo hòng xây dựng cho mình một hệ thống định vị và dẫn đường độc lập nhưng bị phía Mỹ phản đối quyết liệt.

Trong chuyến đi vòng quanh thế giới của hải quân Trung Quốc gần đây, "thủy thủ đoàn không tiết lộ gì về các chi tiết kỹ thuật, kể cả công nghệ định hướng cho tàu. Có tin trong chuyến hải hành này, quân đội Trung Quốc sử dụng hệ thống định vị toàn cầu của Chính phủ Mỹ, nghĩa là vẫn còn phụ thuộc ít nhiều vào công nghệ nước ngoài. Song các sĩ quan luôn phủ nhận điều đó."

Nguyên lý xác dịnh toạ độ của hệ thống GPS và Glonass dựa trên công thức quãng đường = vận tốc x thời gian. Vệ tinh phát ra các tín hiệu bao gồm vị trí của chúng, thời điểm phát tín hiệu. Máy thu tính toán được khoảng cách từ các vệ tinh, giao điểm của các mặt cầu có tâm là các vệ tinh, bán kính là thời gian tín hiệu đi từ vệ tinh đến máy thu x vận tốc sóng điện từ là toạ độ điểm cần định vị

Nói đến GPS, mọi người thường nghĩ đến máy thu GPS, thực ra, GPS là một hệ thống gồm 27 vệ tinh (kể cả 3 cái sơ cua) chuyển động trên các quí đạo chung quanh trái đất. Quân đội Mỹ phát triển hệ thống này với mục đích quân sự nhưng nay nó đã được mở rộng cho các mục đích dân sự.

Mỗi vệ tinh nặng khoảng 2 tấn, sử dụng năng lượng mặt trời, chuyển động cách mặt đất khoảng 19300km. Mỗi vệ tinh quay quanh trái đất 2 vòng một ngày đêm. Quỹ đạo của các vệ tinh được tính toán sao cho ở bất kỳ nơi nào trên trái đất, vào bất kỳ thời điểm nào, cũng có thể “nhìn thấy” tối thiểu 4 vệ tinh.


Công việc của một máy thu GPS là xác định vị trí của 4 vệ tinh hay hơn nữa, tính toán khoảng cách từ các vệ tinh và sử dụng các thông tin đó để xác định vị trí của chính nó. Quá trình này dựa trên một nguyên lý toán học đơn giản.

Giả sử bạn đang ở một nơi nào đó ở Vietnam, và bạn hoàn toàn không biết minh ở đâu, vì một lý do nào đó. Bạn gặp một người dân địa phương và hỏi một cách thân thiện: “làm ơn cho tôi biết tôi đang ở đâu ?” Anh ta trả lời: “bạn đang cách Vũng tàu 45 km”. Đây là một sự thật thú vị, nhưng chưa thật sự có ích. bạn có thể ở bất kỳ đâu trên vòng tròn có tâm là Vũng tàu, bán kính 45 km.

Bạn hỏi một người khác và cô ta cho biết bạn đang cách Biên Hoà 40 km. Bây giờ bạn đã khá hơn. Nếu bạn tổng hợp hai thông tin, bạn sẽ có hai vòng tròn giao nhau. Vị trí của bạn là một trong hai giao điểm của hai đường tròn.

Người thứ ba cho bạn biết vị trí của bạn cách Sài gòn 30 km. Bây giờ thì bạn đã biết mình đang ở đâu.

Áp dụng nguyên lý nay vào không gian 3 chiều, ta cũng có 3 mặt cầu thay vì 3 đường tròn, giao nhau tại một điểm. Về mặt nguyên lý thì không khác nhau nhiều lắm, nhưng khó tưởng tượng hoặc mô tả bằng hình vẽ hơn. Thay vì các đường tròn, bạn sẽ có các mặt cầu.

Nếu bạn biết rằng minh đang ở cách vệ tinh A 20 km, bạn có thể ở bất kỳ nơi nào trên một mặt cầu khổng lồ có bán kính 20 km. Nếu bạn biết thêm rằng bạn đang ở cách vệ tinh B 30 km, giao tuyến của hai mặt cầu này là một đường tròn V. Và nếu bạn biết thêm một khoảng cách nữa đến vệ tinh C, bạn sẽ có thêm một mặt cầu, mặt cầu này giao với đường tròn V tại hai điểm. Trái đất chính là mặt cầu thứ tư, một trong hai giao điểm sẽ nằm trên mặt đất, điểm thứ hai nằm lơ lửng đâu đó trong không gian và dễ dàng bị loại. Với việc giả sử trái đất là một mặt cầu, ta đã bỏ qua cao độ của bạn rồi. Do vậy để có cả tung độ, hoành độ và cao độ, bạn cần thêm một vệ tinh thứ tư nữa.

Nói nghe thì dễ nhỉ, nhưng làm sao đo khoảng cách từ vệ tinh.
Để thực hiện tính toán này, máy thu GPS phải biết hai thứ tối thiểu:
• Vị trí của ít nhất ba vệ tinh bên trên nó
• Khoảng cách giữa máy thu GPS đến từng vệ tinh nói trên

Bằng cách phân tích sóng điện từ tần số cao, công suất cực thấp từ các vệ tinh, máy thu GPS tính toán ra được hai thứ trên. Máy thu loại xịn có thể thu nhận tín hiệu của nhiều vệ tinh đồng thời. Sóng radio chuyển động với vận tốc ánh sáng, tức là 300 ngàn km/giây trong chân không. Máy thu có thể tính toán được khoảng cách dựa vào thời gian cần thiết để tín hiệu đến được máy thu. Sau đây, chúng ta sẽ tìm hiểu máy thu và các vệ tinh đã hoạt động cùng nhau như thế nào để đo các khoảng cách này. Đây là một quá trình khá phức tạp.

Vào một thời điểm nào đó, giả sửu vào lúc 0 giờ, một vệ tinh bắt đầu truyền một chuỗi tín hiệu dài, được gọi là mã ngẫu nhiên giả. Máy thu cũng bắt đầu tạo ra chuỗi mã giống hệt vào cùng thời điểm. Khi tín hiệu từ vệ tinh truỳên đến máy thu, chuỗi tín hiệu đó sẽ bị trễ một chút so với chuỗi do máy thu tạo ra.

Chiều dài khoảng thời gian trễ này chính là thời gian truyền của tín hiệu từ vệ tinh. Máy thu nhân thời gian này với tốc đọ ámh sáng để xác định quãng đường truyền tín hiệu. Giả sử rằng tín hiệu truyền trên đường thẳng, đây chính là khoảng cách từ vệ tinh đến máy thu. Để thực hiện phép đo này, chúng ta phải chắc chắn là đồng hồ trên vệ tinh và trong máy thu phải đồng bộ với nhau. Một sai số 1 mili giây sẽ dẫn đến sai số là 300 ngàn mét, quá nhiều phải không các bạn. Do đó, độ chính các tối thiểu cho các máy thu phải là cỡ nano giây (10-9 ). Để có độ chính xác như vậy, phải trang bị đồng hồ nguyên tử cho không chỉ các vệ tinh mà còn máy thu của bạn nữa. Nhưng đồng hồ nguyên tử thì lại đắt, khoảng 50 đến 100 ngàn đô. Điều đó thì quá đắt cho người dùng nghèo như tớ (và một số trong các bạn nữa).

Để có thể đưa các ứng dụng GPS đến với chúng ta, các ký sư đã có một giải pháp thông minh và hiệu quả. Mỗi quả vệ tinh mang theo một cái đồng hồ nguyên tử, nhưng mỗi máy thu thì chỉ trang bị đồng hồ quartz thông thường. Các đồng hồ quartz này được điều chỉnh liên tục dựa vào tín hiệu được truyền đi từ các vệ tinh.

Trên lý thuyết thì 4 mặt cầu phải giao nhau tại 1 điểm. Nhưng do sai số đồng hồ quartz rẻ tiền, 4 mặt cầu đã không cho 1 giao điểm duy nhất. Biết rằng sai số này gây ra bởi đồng hồ trên máy thu là như nhau Δt, máy thu có thể dễ dàng loại trừ sai số này bằng cách tính toán ra lượng hiệu chỉnh cần thiết để 4 mặt cầu giao nhau tại một điểm. Dựa vào đó, máy thu tự động điều chỉnh đồng hồ cho đồng bộ với đồng hồ nguyên tử trên vệ tinh. Nhờ đó mà đồng hồ trên máy thu có độ chính xác gần như tương đương với đồng hồ nguyên tử. Vậy là chuyện đo khoảng cách đã được giải quyết ổn thoả.

Biết khoảng cách rồi, chúng ta còn phải biết vị trí chính xác của các vệ tinh trên quĩ đạo. Điều này cũng không khó lắm vì các vệ tinh chuyển đông trên các quĩ đạo biết trước và có thể dự đoán được.Trong bộ nhớ của mỗi máy thu đều có chứa một bảng tra vị trí tính toán của tất cả các vệ tinh vào bất kỳ thời điểm nào gọi là Almanac. Lực hút của mặt trăng, mặt trời có ảnh hưởng nhất định làm thay đổi quĩ đạo của các vệ tinh một chút xíu nhưng bộ quốc phòng Mỹ liên tục theo dõi vị trí chính xác của các vệ tinh và truyền thông số hiệu chỉnh đến các máy thu thông qua tín hiệu từ vệ tinh.

Vậy là cả hai vấn đề khoảng cách và vị trí đã giải quyết xong, và hệ thống cơ bản hoạt động tốt, tuy nhiên, người ta nhận thấy hệ thống có nhiều sai số. Nguyên nhân đầu tiên là do việc giả sử rằng các tín hiệu vệ tinh được truyền theo đường thẳng đến các máy thu với vận tốc không đổi. Trong thực tế, bầu khí quyến trái đất ít nhiều làm chậm tốc độ truyền, đặc biết là khi sóng điên từ đi qua các tầng điện ly và đối lưu. Do tính chất của các tầng này khác nhau tại các vị trí khác nhau trên trái đất nên độ trễ này phụ thuộc vào vị trí của máy thu trên mặt đất, điều đó có nghĩa là khó có thể loại trừ sai số này. Gần đây người ta tạo ra các mô hình toán học mô phỏng tính chất của bầu khí quyển trái đát để giảm thiểu sai số này. Ngoài ra, khi tín hiệu phản xạ từ các vật thể lớn như các toà nhà cao tầng, cũng tạo cho máy thu một sai số như là đến từ một khoảng cách xa hơn. Thỉnh thoảng, tín hiệu từ các vệ tinh cũng có sai số. Bộ quốc phòng Mỹ cũng thêm vào sai số nhân tạo được gọi một cách văn hoa là Selective Availability hay SA.

Qua các phần trên, chúng ta đã thấy chức năng cơ bản nhất của máy thu GPS là thu nhận thông tin từ tối thiểu 4 vệ tinh, phối hợp các thông tin này với thông tin đã được chứa trong Almanac để tính toán ra vị trí của máy thu trên mặt đất. Một khi máy thu đã thu nhận và xử lý thông tin, máy sẽ cho chúng ta biết vĩ độ, kinh độ và cao độ của vị trí hiện thời. Để làm cho việc định vị thân thiện hơn, hầu hết các máy thu đều thể hiện các thông tin này dưới dạng các điểm trên bản đồ được chứa sẵn trong máy. Bạn có thể nối máy thu GPS với PC chứa bản đồ chi tiết. Một số máy thu còn cho phép nạp các bản đồ chi tiết vào bộ nhớ trong của máy hay kết nối với các thẻ nhớ đã nạp sẵn bản đồ. 

Theo: Vietglobal

Teambuilding là gì?


Bài 1: Teambuilding là gì?

Thời gian gần đây, loại hình teambuilding trở thành dịch vụ du lịch “hot” nhất và được rất nhiều doanh nghiệp sử dụng những mong kết nối chặt chẽ các thành viên trong công ty. Để giúp độc giả hiểu rõ về loại hình này, chúng tôi mời các chuyên gia về teambuilding của trang web www.vietnamteambuilding.com tư vấn cụ thể trong loạt bài viết sau. Kính mời độc giả đón đọc
Teambuilding - xây dựng đội ngũ là một thuật ngữ chuyên dùng để chỉ các hoạt động hỗ trợ việc hình thành một đội làm việc hiệu quả.
alt
Làm việc theo nhóm là một nhu cầu có ứng dụng trong rất nhiều lĩnh vực và đặc biệt ngày nay, trong các doanh nghiệp lớn (đã lớn hay đang phát triển từ nhỏ trở nên lớn), công việc ngày càng được chia nhỏ cho từng nhóm thực hiện và mỗi nhóm thực hiện một phần công việc, không một cá nhân hay một nhóm nhỏ nào có thể tự thực hiện được toàn bộ một kế hoạch tổng thể.
 
Điểm thú vị của sự phát triển này chính là ở chỗ: công việc lớn được hoàn thành theo kế hoạch, mỗi kế hoạch thường có nhiều mục tiêu nhỏ trong quá trình hoàn thành mục tiêu cuối cùng và cứ như thế, mục tiêu ngày một chia nhỏ, chia nhỏ cho đến khi từng cá nhân có thể tự thực hiện được công việc của mình trong một chuỗi các công việc có liên quan đến nhau một cách hữu cơ của việc đạt đến mục tiêu cuối cùng. Khi đó, vai trò của mỗi cá nhân lại có vẻ như không thay đổi, nghĩa là nhìn bề ngoài thì mỗi người tự làm việc của mình, đầu giờ làm và cuối giờ kết thúc đi về!
 
Quy luật chung thì cũng không thay đổi gì, đó là mỗi người, không phân biệt theo bất kỳ thước đo nào, cũng đều có 8 giờ làm việc công, 8 giờ ngủ và 8 giờ dành riêng cho mình. Điều này đã được một vị vua từ thời xưa quy định và nhiều ngàn năm trôi qua, quy tắc này cũng không có gì khác.
 
Mỗi ngày qua đi, công việc có vẻ như lặp đi lặp lại và dần dần từng cá nhân không còn nhìn ra được sự phụ thuộc lẫn nhau. Khi đó bắt đầu phát sinh sự kém hiệu quả trong toàn bộ quá trình hoàn thành công việc.
 
Cũng có khi trong đội có một hoặc một vài nhân sự mới, những người này được tuyển dụng vào với một bản mô tả công việc, thường là không nói lên sự liên lạc của vị trí làm việc đến kết quả chung của toàn bộ quy trình.
 
Hoạt động xây dựng đội ngũ phát sinh chính là để khắc phục các lỗi hệ thống của một tổ chức lớn, thông thường từ 200 nhân sự trở lên thì hoạt động này sẽ thực sự phát huy hiệu quả khi áp dụng.
 
Cơ sở lý thuyết của quá trình hình thành một đội làm việc hiệu quả là MỘT NHÓM người (group) chỉ có thể làm việc hiệu quả khi cùng tạo thành MỘT ĐỘI (team). Một đội sẽ trải qua bốn giai đoạn phát triển từ khi mới hình thành đến khi có thể thực hiện công việc hiệu quả là:
 
- Hình thành tổ chức của đội (forming)
- Hình thành trật tự quyền lực trong đội - chính thức và không chính thức, hình thành quy tắc nội bộ (Norming)
- Trải qua thực tế hoạt động, cọ xát giữa các thành viên về cách thức làm việc, tính cách, thói quen, tìm ra cách thỏa hiệp lẫn nhau... (storming).
- Từng thành viên chấp nhận những nguyên tắc làm việc chung theo quy tắc riêng của đội mình để đạt được yêu cầu công việc hiệu quả nhất. Khi đó một đội sẽ phát huy được tối đa hiệu quả công việc với các thành viên cụ thể của mình (performing).
 
Điều quan tâm của những người  quản lý chính là nhanh chóng đưa những người trong nhóm (group) làm việc của mình đạt đến được giai đoạn 4 của quá trình
hình thành đội. Khi đó người lãnh đạo mới có thể hoàn thành được nhiệm vụ  cấp trên giao.
 
Teambuilding là thuật ngữ chỉ các hoạt động hỗ trợ cho những người lãnh đạo đẩy nhanh quá trình chuyển biến các thành viên của nhóm thành các thành viên của đội thông qua việc tổ chức các môi trường cộng tác sáng tạo được mô phỏng một cách tế nhị những hoạt động đặc thù của môi trường làm việc. Thông thường, hoạt động ngoài trời sẽ là môi trường thường được chọn vì có khả năng thực hiện được nhiều hoạt động sáng tạo nhất, đồng thời giúp cho từng cá nhân có thể vượt qua các rào cản tâm lý và qua đó đạt được yêu cầu của hoạt động xây dựng đội ngũ.
 
Hoạt động xây dựng đội thường được thực hiện với những mục tiêu rất cụ thể của từng tổ chức. Tuy nhiên, hầu hết các chương trình đều được xây dựng trên nền tảng của lý thuyết phát triển đội ngũ và như vậy, trong mỗi hoạt động, nhà tổ chức đều phải xác định được mục tiêu cụ thể là sau khóa huấn luyện thì đội sẽ đạt đến mức độ nào trong 4 mức độ kể trên (forming, norming, storming và performing).
 
Thông thường, các đội sau một thời gian hoạt động thường có sự thay đổi thành viên hoặc môi trường làm việc hay thậm chí thay đổi yêu cầu công việc. Mỗi khi có sự thay đổi như vậy, lãnh đạo đội thường tổ chức các hoạt động mô phỏng thực tế hoặc yêu cầu công việc mới để các thành viên của đội mình có thể nhanh chóng đạt được mức độ hợp tác hiệu quả trong môi trường làm việc mới.
 
Nói cách khác, teambuilding chính là một hoạt động nhắc nhở từng thành viên trong công ty, trong từng phòng về ý nghĩa của sự hợp tác thông qua hình thức của trò chơi một cách vui vẻ, bởi những người vui vẻ! Như vậy hiệu quả của lời nhắc nhở đó cao hơn nhiều so với một cuộc họp chính thức toàn công ty thông báo về yêu cầu công việc mới.
 
 
Nguyễn Duy Thuận - Chuyên viên tư vấn của trang web vietnamteambuilding.com

CEO là gì ?


Ceo là gì ?

Ceo có nghĩa là tổng giám đốc, hay còn gọi là giám đốc điều hành, điều hành toàn bộ mọi hoạt động của công ty theo chiến lược và chính sách của Hội Đồng Quản Trị. Thuật ngữ CEO viết tắt từ những chữ cái đầu tiên của cụm từ tiếng Anh ChiefExecutive Officer.

Ceo, do đó chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động kinh doanh trước Hội Đồng Quản Trị (Board of directors hoặc board of management), đảm bảo thực thi đúng đắn các chiến lược đã được Hội Đồng Quản Trị thông qua.

Ở Việt nam, do đặc thù của nền kinh tế Việt nam mới chuyển đổi từ bao cấp sang thị trường, vai trò và chức năng CEO và chủ tịch hội đồng quản trị trong một công ty đôi khi không được tách bạch rõ ràng lắm. Chủ tịch hội đồng quản trị (chairman) thông thường kiêm luôn giám đốc (tổng giám đốc) của công ty, và CEO cũng thường phụ thuộc rất lớn vào chủ tịch hội đồng quản trị khi ra các quyết định điều hành. Điều này phản ánh khá rõ trong khối doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân vừa và nhỏ đi lên từ hộ sản xuất, gia đình kinh doanh.

Trong các công ty đại chúng đã niêm yết lên thị trường chứng khoán, quyền sở hữu công ty và quyền điều hành công ty có sự phận định rõ ràng. Đại hội đồng cổ đông sẽ quyết định Hội đồng quản trị thông qua số lượng cổ phiếu nắm giữ, cũng như quyết định vị trí Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị, Ban Kiểm Soát. Hội đồng Quản trị sau đó sẽ bầu ra một vị trí đại diện cho hoạt động điều hành công ty, đó là CEO.

CEOVN

Android là gì?


 Android là gì? Hệ điều hành android

Android ™ cung cấp một bộ đầy đủ các phần mềm cho các thiết bị di động: Android là gì? là một hệ thống điều hành, middleware và các ứng dụng di động chủ chốt. Các Android Software Development Kit(SDK) bây giờ đã có.
Android là hệ điều hành trên điện thoại di động (và hiện nay là cả trên một số đầu phát HD, HD Player, TV) phát triển bởi Google và dựa trên nền tảng Linux. Trước đây, Android được phát triển bởi công ty liên hợp Android ( sau đó được Google mua lại vào năm 2005).
Các nhà phát triển viết ứng dụng cho Android dựa trên ngôn ngữ Java. Sự ra mắt của Android vào ngày 5 tháng 11 năm 2007 gắn với sự thành lập của liên minh thiết bị cầm tay mã nguồn mở, bao gồm 78 công ty phần cứng, phần mềm và viễn thông nhằm mục đính tạo nên một chuẩn mở cho điện thoại di động trong tương lai.

Lịch sử phát triển Anroid

Tháng 7 năm 2005, Google mua lại Android, Inc., một công ty nhỏ mới thành lập có trụ sở ở Palo Alto, California, Mỹ. Những nhà đồng sáng lập của Android chuyển sang làm việc tại Google gồm có Andy Rubin (đồng sáng lập công ty Danger), Rich Miner (đồng sáng lập công ty Wildfire Communications), Nick Sears (từng là phó chủ tịch của T-Mobile), và Chris White (trưởng nhóm thiết kế và phát triển giao diện tại WebTV). Khi đó, có rất ít thông tin về các công việc của Android, ngoại trừ việc họ đang phát triển phần mềm cho điện thoại di động. Điều này tạo những tin đồn về việc Google có ý định bước vào thị trường điện thoại di động.
Tại Google, nhóm do Rubin đứng đầu đã phát triển một nền tảng thiết bị di động dựa trên hạt nhân Linux, được họ tiếp thị đến các nhà sản xuất thiết bị cầm tay và các nhà mạng trên những tiền đề về việc cung cấp một hệ thống mềm dẻo, có khả năng nâng cấp mở rộng cao.[cần dẫn nguồn] Một số nguồn tin cho biết trước đó Google đã lên danh sách các thành phần phần cứng và các đối tác phần mềm, đồng thời ra hiệu với các nhà mạng rằng họ sẵn sàng hợp tác ở nhiều cấp độ khác nhau. Ngày càng nhiều suy đoán rằng Google sẽ tham gia thị trường điện thoại di động xuất hiện trong tháng 12 năm 2006. Tin tức của BBC và Nhật báo phố Wall chú thích rằng Google muốn đưa công nghệ tìm kiếm và các ứng dụng của họ vào điện thoại di động và họ đang nỗ lực làm việc để thực hiện điều này. Các phương tiện truyền thông in và online cũng sớm có bài viết về những tin đồn cho rằng Google đang phát triển một thiết bị cầm tay mang thương hiệu Google. Và lại càng có nhiều suy đoán sau bài viết về việc Google đang định nghĩa các đặc tả công nghệ và trình diễn các mẫu thử với các nhà sản xuất điện thoại di động và nhà mạng.

Tính Năng Mở của hệ điều hành Android là gì?

Android được xây dựng  để cho phép các nhà phát triển để tạo ra các ứng dụng di động hấp dẫn tận dụng tất cả một chiếc điện thoại đã cung cấp. Nó được xây dựng để được thực sự mở. Ví dụ, một ứng dụng có thể kêu gọi bất kỳ chức năng lõi của điện thoại như thực hiện cuộc gọi, gửi tin nhắn văn bản, hoặc bằng cách sử dụng máy ảnh, cho phép các nhà phát triển để tạo ra phong phú hơn và nhiều hơn nữa những kinh nghiệm cố kết cho người dùng. Android được xây dựng trên mở Linux Kernel. Hơn nữa, nó sử dụng một máy ảo tuỳ chỉnh được thiết kế để tối ưu hóa bộ nhớ và tài nguyên phần cứng trong một môi trường di động. Android là mã nguồn mở, nó có thể được liberally mở rộng. Nền tảng này sẽ tiếp tục tiến triển như cộng đồng nhà phát triển công việc cùng nhau để xây dựng các ứng dụng di động sáng tạo.

Tất cả các ứng dụng có thể được tạo ra cho Android?

Android không phân biệt giữa các ứng dụng lõi của điện thoại và các ứng dụng của bên thứ ba. Họ tất cả có thể được xây dựng để có thể truy cập bằng khả năng của một người cung cấp cho người sử dụng điện thoại với một dải rộng các ứng dụng và dịch vụ. Với các thiết bị xây dựng trên Hệ điều hành Android, người dùng có thể hoàn toàn thích ứng với điện thoại đến lợi ích của họ. Họ có thể trao đổi trên màn hình của điện thoại, những phong cách của dialer, hoặc bất kỳ ứng dụng. Họ thậm chí có thể hướng dẫn điện thoại của họ để sử dụng hình ảnh ưa thích của họ xem các ứng dụng để xử lý xem tất cả các hình ảnh.

Phá bỏ các rào cản ứng dụng của Android?

Android phá bỏ rào cản để xây dựng các ứng dụng mới và sáng tạo. Ví dụ, một nhà phát triển có thể kết hợp thông tin từ các trang web với dữ liệu trên điện thoại di động của một cá nhân – ví dụ như địa chỉ liên hệ của người dùng, lịch, hoặc vị trí địa lý – để cung cấp một trải nghiệm người dùng có liên quan hơn. Với Android, một nhà phát triển có thể xây dựng một ứng dụng cho phép người dùng xem vị trí của bạn bè của họ và được cảnh báo khi họ đang có trong vùng phụ cận cho họ một cơ hội để kết nối.

Với Android tốc độ nhanh & phát triển ứng dụng dễ dàng

Android cung cấp truy cập đến một loạt các thư viện công cụ hữu ích và có thể được sử dụng để xây dựng các ứng dụng phong phú. Ví dụ, Android cho phép các nhà phát triển để có được vị trí của điện thoại, và cho phép các thiết bị để giao tiếp với nhau tạo điều kiện cho đồng đẳng rich-to-peer ứng dụng xã hội. Ngoài ra, Android bao gồm một tập hợp đầy đủ công cụ đã được xây dựng từ mặt đất lên cùng với việc cung cấp nền tảng phát triển, với năng suất cao và cái nhìn sâu vào các ứng dụng của họ.

Phát triển Android ROM

Rất nhiều nhà phát triển hệ điều hành Android đã vào cuộc và các  ROM cho  Android độc đáo được ra đời với nhiều tích năng nổi trội được tích hợp và đầy sáng tạo

Danh sách các nhà phát triển ROM nổi bật:

  1. ahmgsk
  2. Amon_RA
  3. Benbuchacher
  4. BH_MAN
  5. HTCClay
  6. eViL_D
  7. domenukk
  8. OpenTeam
Ngoài ra cò hàng trăm nhà phát triển ROM đang ngày đêm làm việc cật lực để đưa ra sản phẩm của chính mình.
Phải nói rằng Android ra đời đã mang lại cho người dùng điện thoại sự cảm nhận khác biệt về 1 chiếcSmartphone, chưa đầy 2 năm kho phần mềm cho Android đã lên đến còn số hơn 30 nghìn ứng dụng.

ROM Android

Liên hệ Android Việt Nam

Để biết thêm thông tin và chi tiết về Android hãy liên hệ với Android Việt Nam.
http://www.vietnamandroid.com

Tìm dịch vụ